Quy định mới về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Rate this post

Image

Bổ sung về hành vi khách quan

Trong Bộ luật Hình sự 1999, điều 140 quy định về hành vi khách quan của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong đó, chủ thể đã thực hiện một trong ba hành vi sau đây sau khi vay, mượn, thuê, hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hợp đồng: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản; hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp và không có khả năng trả lại tài sản.

Sửa đổi năm 2017 của Bộ luật Hình sự 2015 đã thêm một hành vi khách quan khác cho tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đó là “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Điều này hoàn thiện thêm cho Bộ luật Hình sự 2015 và tạo ra sự vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản. Khi một chủ thể không trả lại tài sản mà đã cố ý làm mất khả năng sở hữu tài sản của chủ tài sản, chủ thể đó đã vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản.

So với Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2017 vẫn duy trì tình tiết “Bỏ trốn” của Bộ luật Hình sự 1999. Việc duy trì quy định này cung cấp cơ sở pháp lý cho các cơ quan thực thi pháp luật xử lý tội phạm và tránh việc tội phạm thoát trốn trách nhiệm.

Thay đổi về dấu hiệu định khung hình phạt

  • Bỏ các quy định định khung về hậu quả “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” tại điểm e khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999. Thay vào đó, việc định tội và định hình phạt đối với người phạm tội cần căn cứ vào hậu quả trực tiếp của hành vi nguy hiểm cho xã hội.

  • Điểm b khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định thêm tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” để định khung hình phạt. Quy định này đúng và cần thiết để trừng trị những người đã trở thành bất tín.

  • Điểm e khoản 2 bổ sung tình tiết “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đây là quy định mới phù hợp với tình hình hiện nay, khi mà các tình trạng như quỵt nợ, vỡ tín dụng hay đòi nợ thuê… đang phát triển và gây bức xúc trong xã hội do lợi dụng sự tin tưởng của người khác để chiếm đoạt tài sản.

Thay đổi về các mức hình phạt

Các mức hình phạt quy định trong Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) hầu hết đều có lợi hơn cho người phạm tội so với Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999 (trừ quy định tại khoản 1).

  • Khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Trong khi đó, khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định mức hình phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

  • Khoản 3 Điều 140 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù. Khoản 3 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 05 năm đến 12 năm tù.

  • Khoản 4 Điều 140 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù và không áp dụng tù chung thân. Điều này có lợi hơn cho người phạm tội so với khoản 4 Điều 140 BLHS năm 1999.

Tuy nhiên, việc quy định khung hình phạt trong khoản 4 Điều 175 BLHS năm 2015 không có khoảng giao thoa với khung hình phạt trong khoản 3. Điều này cần xem xét lại, vì trên thực tế có thể xảy ra trường hợp hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị 499.999.000 đồng và có thêm tình tiết tăng nặng khác” nguy hiểm hơn hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị 500.000.000 đồng và không có thêm tình tiết tăng nặng”. Tuy nhiên, mức hình phạt cho hành vi thứ nhất không thể vượt quá 12 năm, trong khi mức hình phạt cho hành vi thứ hai thì không thể dưới 12 năm.

  • Khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 giống với khoản 5 Điều 140 BLHS năm 1999, chỉ khác ở chỗ hình phạt “bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” có thể được áp dụng đồng thời với hình phạt “bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, chỉ được áp dụng một trong hai hình phạt bổ sung này.

Nguyễn Hoàng Hằng – Thân Đình Trung

VKSND quận Long Biên, Tp Hà Nội

Luật Sự Tuấn

Related Posts

Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự

Có những trường hợp mà cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra hình sự. Hãy cùng tìm hiểu…

Vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo…

Cần có hướng dẫn cụ thể về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quý vị luật sư có biết rằng khi xét xử vụ án đánh bạc tại một quán vịt cỏ ở thành phố Y, tỉnh V vào ngày…

Tìm hiểu về Biện pháp khiển trách theo Điều 93 BLHS năm 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017)

Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về biện pháp khiển trách và cách nó được áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội….

Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI

Nghị định 125/2020/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 đã đặt ra quy định mới về mức phạt chậm nộp thuế TNCN (thu nhập cá nhân) và tăng tiền…

Tổng hợp mức phạt các lỗi vi phạm giao thông đối với ô tô 2023

Có thể bạn quan tâm Thẩm quyền chứng thực giấy tờ Thủ tục cấp giấy phép xây dựng mới đối với công trình cấp III, cấp IV…