Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Rate this post

Image

Trong hệ thống pháp luật của nước ta, có rất nhiều biện pháp ngăn chặn được đưa ra để bảo đảm an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia vào quá trình xét xử và điều tra. Một trong những biện pháp quan trọng đó chính là “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bài viết này sẽ tìm hiểu chi tiết về biện pháp này theo quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Cấm đi khỏi nơi cư trú là gì?

Theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cấm đi khỏi nơi cư trú là một biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với các bị can, bị cáo khi họ có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng. Mục đích chính của biện pháp này là đảm bảo sự có mặt của các bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án.

Nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú

Khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú, bị can, bị cáo phải tuân thủ một số nghĩa vụ quan trọng như sau:

  • Không được rời khỏi nơi cư trú trừ khi có sự cho phép từ cơ quan đã ra lệnh cấm;
  • Phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong giấy triệu tập, trừ khi có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
  • Không được bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
  • Không được mua chuộc, cưỡng ép hay xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật;
  • Không được tiêu huỷ, giả mạo chứng cứ, tài liệu hoặc đồ vật có liên quan đến vụ án;
  • Không được đe dọa, khống chế hay trả thù các nhân chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân của họ.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ trên, họ có thể bị tạm giam.

Thẩm quyền quyết định và thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú

Theo quy định tại khoản 3 của Điều 123 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, những người sau đây có thẩm quyền quyết định ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú:

  • Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
  • Viện trưởng và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
  • Chánh án và Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không được vượt quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn từ khi tuyên án cho đến khi người đó đi chấp hành án phạt tù.

Đồng thời, người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền địa phương hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý và theo dõi. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời rời khỏi nơi cư trú, họ phải được sự đồng ý của chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú và phải có giấy phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tổng kết

Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo sự hiện diện của các bị can, bị cáo trong quá trình xét xử và điều tra. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, biện pháp này áp dụng cho tất cả các loại tội phạm và yêu cầu các bị can, bị cáo tuân thủ các nghĩa vụ quy định. Đồng thời, người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cần thông báo cho chính quyền địa phương và đơn vị quân đội liên quan để quản lý và theo dõi.

Related Posts

Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự

Có những trường hợp mà cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra hình sự. Hãy cùng tìm hiểu…

Vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo…

Cần có hướng dẫn cụ thể về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quý vị luật sư có biết rằng khi xét xử vụ án đánh bạc tại một quán vịt cỏ ở thành phố Y, tỉnh V vào ngày…

Tìm hiểu về Biện pháp khiển trách theo Điều 93 BLHS năm 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017)

Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về biện pháp khiển trách và cách nó được áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội….

Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI

Nghị định 125/2020/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 đã đặt ra quy định mới về mức phạt chậm nộp thuế TNCN (thu nhập cá nhân) và tăng tiền…

Tổng hợp mức phạt các lỗi vi phạm giao thông đối với ô tô 2023

Có thể bạn quan tâm Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI Điều 113 BLTTHS năm 2015: Tương tác…