Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356)

Rate this post

tội lợi dụng chức vụ

Luật sư TuấnChuyên gia pháp luật hàng đầu
Luật sư TuấnChuyên gia pháp luật hàng đầu

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ không chỉ là hoạt động sai trái của cơ quan hay tổ chức, mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự mất uy tín và lòng tin của nhân dân vào Nhà nước. Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích cách cấu thành và các yếu tố liên quan đến Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định tại Điều 356 trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ phải đáp ứng hai điều kiện: có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ 16 tuổi trở lên. Đối với tội này, các dấu hiệu liên quan đến chủ thể là rất quan trọng để xác định hành vi phạm tội và phân biệt với các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn khác. Đầu tiên, người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ phải có chức vụ và quyền hạn.

Do đó, người có chức vụ, quyền hạn đó phải đang trong quá trình thi hành công vụ. Nếu người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhưng không trong thời gian thi hành công vụ, thì không bị xem là vi phạm tội này, mà có thể được xem xét các tội danh tương ứng tùy từng trường hợp.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 trong Bộ luật Hình sự. Người từ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều luật khác nhưng không thuộc Chương XXIII trong Bộ luật Hình sự. Vì vậy, chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là người từ 16 tuổi trở lên.

Khách thể của tội phạm

Khách thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ còn là một hoạt động đúng đắn của cơ quan hay tổ chức. Tội phạm này gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân, tuy nhiên không có nghĩa là người phạm tội không gánh chịu những thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân. Người phạm tội thực hiện hành vi này với tư cách cố ý, tức là họ nhận thức rõ rằng hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, đã biết trước hậu quả có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra. không có trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân do cố ý gián tiếp, vì người phạm tội luôn muốn gây thiệt hại cho xã hội.

Mục đích của tội phạm được xác định ngay tại mục đầu của Điều 356 trong Bộ luật Hình sự: “Người nào vì lợi ích cá nhân hoặc động cơ khác”. Động cơ lợi ích là vì lợi ích vật chất của bản thân, đơn vị hoặc tổ chức mà họ tham gia… Nói chung, việc xác định động cơ lợi ích không khó trong thực tế, nhưng khó nhất vẫn là việc xác định động cơ khác của người phạm tội. Động cơ khác là vì lợi ích phi vật chất của bản thân, của người khác mà người phạm tội quan tâm như: vì lòng tôn trọng, vì tình cảm cá nhân, vì danh tiếng, địa vị xã hội…

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ. Người phạm tội có chức vụ, quyền hạn để thực hiện công vụ được giao nhưng họ không làm, không làm đúng kịp thời hoặc không làm theo yêu cầu của công vụ. Tất cả những biểu hiện này đều được xem là làm trái công vụ, tuy nhiên vẫn nằm trong phạm vi quyền hạn của chủ thể. Quy định về công vụ có thể có trong các quy định pháp luật, nội quy, chế độ, thể lệ của ngành hoặc địa phương. Hành vi làm trái của người có chức vụ, quyền hạn phải gây ra một số thiệt hại đối với lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Hành vi của tội phạm bao gồm hai hành vi song song là “hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn” và “hành vi gây thiệt hại”. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ tương tự như hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong các tội tham ô, nhận hối lộ và các tội phạm khác có việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn và họ sử dụng chức vụ, quyền hạn đó một cách trái phép nhằm đạt được mục đích của mình. Nếu không sử dụng chức vụ, quyền hạn họ có, hành vi của họ không thể được thực hiện để đạt được mục đích đó.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ để gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi gây thiệt hại này có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội. Nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó, họ sẽ không thể dễ dàng thực hiện hành vi gây thiệt hại; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện hành vi gây thiệt hại một cách dễ dàng.

Hành vi thứ hai của tội này là “hành vi gây thiệt hại”. Thiệt hại có thể là thiệt hại về tài sản nhưng cũng có thể là thiệt hại khác xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức và cá nhân. Thiệt hại khác ở đây không nhất thiết phải là thiệt hại về vật chất, nó có thể là thiệt hại phi vật chất như danh dự, uy tín hoặc làm xáo trộn hoạt động bình thường của nhà nước, tổ chức và cá nhân…

Để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự của người vi phạm, cần có hai điều kiện cơ bản liên quan đến mặt khách quan của tội phạm: (1) Chủ thể phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ; (2) Hành vi đó phải gây ra một hậu quả nghiêm trọng theo quy định của luật hình sự. Hậu quả là yếu tố bắt buộc của tội phạm này và có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội. Hơn nữa, mức độ của hậu quả cũng có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để từ đó định rõ hình phạt phù hợp.

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này là yếu tố pháp lý bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Đây là loại tội phạm có hậu quả nguy hiểm rất đa dạng. Nó có thể là thiệt hại vật chất như tính mạng, sức khỏe, tài sản nhưng cũng có thể là thiệt hại phi vật chất như uy tín, danh dự, nhân phẩm… Trong trường hợp chủ thể thực hiện các hành vi trên mà không đạt đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì họ sẽ bị xem xét và xử lý hành chính. Hậu quả là yếu tố bắt buộc của tội phạm này, tội phạm chỉ đã hoàn thành khi hậu quả gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

Hình phạt

  • Khoản 1: Phạt cải tạo không giam giữ từ 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Khoản 2: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
  • Khoản 3: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
  • Khoản 4: Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm và có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Liên hệ tư vấn luật sư: 0936683699 – 0983951338

Related Posts

Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự

Có những trường hợp mà cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra hình sự. Hãy cùng tìm hiểu…

Vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo…

Cần có hướng dẫn cụ thể về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quý vị luật sư có biết rằng khi xét xử vụ án đánh bạc tại một quán vịt cỏ ở thành phố Y, tỉnh V vào ngày…

Tìm hiểu về Biện pháp khiển trách theo Điều 93 BLHS năm 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017)

Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về biện pháp khiển trách và cách nó được áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội….

Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI

Nghị định 125/2020/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 đã đặt ra quy định mới về mức phạt chậm nộp thuế TNCN (thu nhập cá nhân) và tăng tiền…

Tổng hợp mức phạt các lỗi vi phạm giao thông đối với ô tô 2023

Có thể bạn quan tâm Cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 Quy định về Tội lạm…