Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Rate this post

Việc khởi tố vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người trên hệ thống pháp luật Việt Nam. Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ căn cứ và cơ sở của việc khởi tố vụ án, cũng như quyền hạn và trình tự thủ tục của việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhằm đảm bảo quyền con người và quyền công dân.

Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự

Theo Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành tố tụng và khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, cũng như pháp nhân phạm tội.

Các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự, không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

  • Không có sự việc phạm tội;
  • Hành vi không cấu thành tội phạm;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
  • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
  • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Tội phạm đã được đại xá;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
  • Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự cụ thể

Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, căn cứ không khởi tố vụ án hình sự bao gồm:

– Không có sự việc phạm tội:

Không có sự việc phạm tội có thể là thông tin về tội phạm không chính xác, hoàn toàn không có sự việc xảy ra như thông tin mà các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận hoặc có sự việc xảy ra nhưng không có dấu hiệu của tội phạm.

– Hành vi không cấu thành tội phạm:

Hành vi không cấu thành tội phạm là hành vi của người hoặc pháp nhân không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS).

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với một số tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật:

Cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.

– Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do BLHS quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Khi hết thời hạn đó, người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Tội phạm đã được đại xá:

Đại xá là một biện pháp khoan hồng đặc biệt của Nhà nước, do Quốc hội quyết định mà nội dung của nó là tha hoàn toàn đối với người phạm tội đã phạm một hoặc một số loại tội phạm nhất định.

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác:

Trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, nếu xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không khởi tố vụ án hình sự, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

– Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố:

Cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết. Nếu bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự.

Nguồn: Luật sư Việt Nam

Related Posts

Thực đơn: Những điều cần biết về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Có thể bạn quan tâm Tìm hiểu nội dung Điều 52 BLHS năm 2015 về “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự” Quy định về…

Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự

Có những trường hợp mà cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra hình sự. Hãy cùng tìm hiểu…

Vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo…

Cần có hướng dẫn cụ thể về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quý vị luật sư có biết rằng khi xét xử vụ án đánh bạc tại một quán vịt cỏ ở thành phố Y, tỉnh V vào ngày…

Tìm hiểu về Biện pháp khiển trách theo Điều 93 BLHS năm 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017)

Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về biện pháp khiển trách và cách nó được áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội….

Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI

Nghị định 125/2020/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 đã đặt ra quy định mới về mức phạt chậm nộp thuế TNCN (thu nhập cá nhân) và tăng tiền…