Định tội danh theo Điều 314 Bộ Luật Hình sự: Cần sự hướng dẫn cụ thể

Rate this post

BLHS năm 2015 đã quy định nhiều tội danh trong cùng một điều luật, ví dụ như tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Mặc dù tên điều luật có thể khác nhau nhưng nội dung của mỗi điều luật này đều quy định nhiều tội danh khác nhau.

Trong tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341 Bộ Luật Hình sự), cần phân biệt 2 hành vi là hành vi làm giả và hành vi sử dụng.

Đối với người sử dụng, hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả phạm vào tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Người làm giả đã cung cấp con dấu, tài liệu giả cho người sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật nên đồng phạm với người sử dụng về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Đối với người làm giả, hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Người sử dụng đã kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người làm giả tạo ra con dấu, tài liệu giả cho mình sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật nên đồng phạm với người làm giả về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Về nguyên tắc, người làm giả và người sử dụng phạm vào cả 2 tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức.

Trong BLHS năm 1985, chỉ có một tội là tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 đã tách hành vi sử dụng thành một tội độc lập, đó là tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Tôi cho rằng việc tách hành vi làm giả và hành vi sử dụng là không hợp lý vì hành vi làm giả và hành vi sử dụng luôn đi liền với nhau. Một hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi sử dụng. Do đó, trong hầu hết các trường hợp, người làm giả và người sử dụng đều phạm vào cả 2 tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức.

Để giải quyết vấn đề này, tôi đồng ý với quan điểm của tác giả khi xác định người làm giả phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và người sử dụng phạm vào tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

BLHS năm 2015 đã tách hành vi làm giả và hành vi sử dụng thành 2 tội danh độc lập và quy định trong cùng một điều luật. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc tách hành vi làm giả và hành vi sử dụng là không hợp lý. Cả 2 hành vi này luôn đi liền với nhau và có mối quan hệ chặt chẽ.

Trong BLHS năm 1985, cũng đã có nhiều tội danh được quy định trong cùng một điều luật. Một số trường hợp đã được giải quyết thông qua Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986, trong đó có hướng dẫn về việc vận dụng điều luật quy định nhiều tội phạm.

Theo Nghị quyết số 04 này, khi một điều luật quy định nhiều tội phạm, có thể áp dụng một trong các cách sau:

  • Xử lý theo tên của tội phạm chủ yếu mà không đề cập đến toàn bộ tên tội phạm của điều luật.
  • Xử lý theo tên tội với đầy đủ các hành vi đã được quy định tại điều luật nếu các hành vi này có quan hệ chặt chẽ với nhau.
  • Xử lý theo tên của từng tội phạm đã được quy định tại điều luật, định hình phạt cho mỗi tội phạm và tổng hợp hình phạt theo quy định.

Vì vậy, tôi đồng ý với quan điểm của tác giả khi xác định người làm giả phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và người sử dụng phạm vào tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

Trong trường hợp người phạm tội có hành vi làm giả con dấu, tài liệu, sau đó lại sử dụng chính con dấu, tài liệu giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật, người phạm tội sẽ phạm vào 2 tội, đó là tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nguyên tắc định tội danh cho trường hợp này là người phạm tội sẽ phạm vào cả 2 tội khi các tội phạm này có tính nguy hiểm độc lập và không loại trừ được lẫn nhau. Hành vi gian dối của người phạm tội trong trường hợp này đã xâm phạm đến một khách thể độc lập khác và có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành vi gian dối trong trường hợp thông thường.

Vì vậy, tôi không đồng ý với quan điểm của tác giả khi xác định người phạm tội phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 Bộ Luật Hình sự.

Trong trường hợp người phạm tội có hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sau đó sử dụng chính con dấu, tài liệu giả này để gian dối chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sẽ phạm vào cả 2 tội là tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc xác định tội danh như trên đảm bảo sự phân hóa trách nhiệm hình sự và đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Tuy vấn đề này phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau, tôi cho rằng cần có sự hướng dẫn cụ thể của liên ngành tư pháp Trung ương để áp dụng pháp luật một cách thống nhất, đảm bảo sự công bằng và tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung của pháp luật.

Related Posts

Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự

Có những trường hợp mà cơ quan điều tra sẽ ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra hình sự. Hãy cùng tìm hiểu…

Vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 điều 51 BLHS

Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề vướng mắc khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo…

Cần có hướng dẫn cụ thể về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Quý vị luật sư có biết rằng khi xét xử vụ án đánh bạc tại một quán vịt cỏ ở thành phố Y, tỉnh V vào ngày…

Tìm hiểu về Biện pháp khiển trách theo Điều 93 BLHS năm 2015 (sửa đổi và bổ sung năm 2017)

Đầu tiên, chúng ta cùng tìm hiểu về biện pháp khiển trách và cách nó được áp dụng đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội….

Phần mềm hợp đồng điện tử iContract – Sự tin dùng của nhiều DN FDI

Nghị định 125/2020/NĐ-CP ban hành ngày 19/10/2020 đã đặt ra quy định mới về mức phạt chậm nộp thuế TNCN (thu nhập cá nhân) và tăng tiền…

Tổng hợp mức phạt các lỗi vi phạm giao thông đối với ô tô 2023

Có thể bạn quan tâm Các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra hình sự Tìm hiểu nội dung Điều 224 BLHS năm 2015 về…